Quản lý cấp nước nông thôn hướng tới phát triển bền vững

  • Cập nhật: Thứ ba, 8/10/2019 | 10:13:59 Sáng

Cũng như nhiều nước trên Thế giới, Việt Nam đang tích cực thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, trong đó có mục tiêu đảm bảo nước sạch cho tất cả mọi người. Đây cũng là mục tiêu ưu tiên, được sự quan tâm của Nhà nước.

Hoạt động cấp nước nói chung và cấp nước nông thôn nói riêng đã nhận được sự đầu tư từ nhiều nguồn vốn như: NTP (1998 -2015), Chương trình 134, 135, 30a; Unicef, Úc, Đan Mạch, Hà Lan, Vương quốc Anh, ODA.... Sau gần 40 năm, Việt Nam đã đạt được thành tựu to lớn, sử dụng nước HVS 36% (năm 1999) lên 88,5% sử dụng nước HVS  (51% đạt QC 02/BYT).
 
Tuy nhiên quản lý cấp nước nông thôn đang gặp nhiều thách thức: Hệ thống chính sách chưa đồng bộ, nguồn vốn còn hạn chế, thiếu hụt nguồn nhân lực, nhận thức của người dân, nguồn nước ô nhiễm và cạn kiệt…
 
 
Công trình cấp nước sạch thôn Khuổi Trang, xã Xuân Lập, huyện Lâm Bình
đáp ứng nhu cầu nước sạch của bà con đồng bào dân tộc Mông.
 
1. THỰC TRẠNG CẤP NƯỚC NÔNG THÔN

Tính đến năm 2018 cả nước có 88,5% người dân nông thôn được sử dụng nước  hợp vệ sinh (51% đạt QC 02/BYT); Công trình cấp nước tập trung phục vụ 44% dân số nông thôn (28,5 triệu dân); Công trình cấp nước nhỏ lẻ phục vụ 56% dân số nông thôn (36,3 triệu dân). 4 vùng đạt trên 90% số dân được sử dụng nước hợp vệ sinh đó là Đồng bằng sông Hồng, Nam Trung bộ, Đông Nam bộ, Đồng bằng Sông Cửu long. 3 vùng đạt từ 85-87% số dân sử dụng nước HVS: MN phía Bắc, Bắc Trung bộ, Tây Nguyên.

Các công trình cấp nước tập trung

Cả nước hiện có Tổng số 16.573 công trình cấp nước tập trung tại nông thôn, được bố trí ở các vùng như bảng sau:

Bảng 1: Tổng hợp các công trình cấp nước tập trung (%)
 
 
Từ bảng trên có thể thấy, các công trình hoạt động kém hiệu quả và không hoạt động chiếm tới 31,6%. Trong đó 41 % công trình đã được xây dựng trên 10.

Trong tất cả các tỉnh thành phố trên toàn quốc chỉ có 16 tỉnh, TP quản lý, vận hành tốt công trình cấp nước nông thôn, trong đó có: Nam Định, Hải Phòng, Bắc Ninh, T.T. Huế, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-VT, An Giang, Bạc Liêu, Cần Thơ, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang.

Về quy mô công trình cấp nước nông thôn, có 30,4 % là rất nhỏ (công suất dưới 50 m3/ngđ), 49,8 % là công trình quy mô nhỏ (từ 50 - 300 m3/ngđ), 10,1 % quy mô trung bình (từ 300 - 500 m3/ngđ), công trình quy mô công suất lớn chỉ chiếm 9,8 % (trên 500 m3/ngđ).

Mô hình tổ chức quản lý, khai thác vận hành

Bảng 2: Tỷ lệ Mô hình tổ chức quản lý, khai thác, vận hành  (%)
 
 
Mô hình Trung tâm NS&VSMTNT chiếm 9,47%  (1.569/16.573 công trình); quản lý công trình quy mô vừa, lớn;  được hỗ  trợ từ ngân sách NN; cơ chế tài chính chặt chẽ; vân hành khá hiệu quả, tuy vậy còn thiếu năng động và hạn chế phát triển theo thị trường.

Mô hình Doanh nghiệp chiếm 9,53% (1579/16.573 công trình); quản lý công trình quy mô vừa, lớn (liên xã, huyện), vùng đông dân cư; chủ động tài chính và sản xuất kinh doanh, tiếp cận theo thị trường; toàn quyền quyết định kinh doanh; quản lý vận hành tốt, chuyên nghiệp.

Mô hình cộng đồng, UBND xã, HTX (gọi chung là mô hình cộng đồng) chiếm tỷ lệ cao 81%. Tuy nhiên việc quản lý của mô hình cộng đồng là yếu kém và nhiều bất cập do: Quản lý công trình quy mô nhỏ, công nghệ đơn giản, chi phí quản lý vận hành không lớn; Cơ chế tài chính không rõ ràng, khó được kiểm tra và xác định tính minh bạch về tài chính; Giá nước thấp, nguồn thu không đủ chi cho các hoạt động; Chất lượng, số lượng nước không thể kiểm soát; Năng lực hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp; Phương thức hoạt động cơ bản vẫn mang tính phục vụ, chưa chuyển được sang phương thức dịch vụ; Chính quyền ở nhiều địa phương chưa quan tâm về O&M; Chuẩn bị đầu tư, công tác khảo sát, đánh giá nhu cầu sử dụng nước chưa tốt; đầu tư không đồng bộ.

Tổng cục Thủy lợi đã phối hợp với WB đã xây dựng hướng dẫn quản lý CTCN dựa vào cộng đồng. Đã thí điểm tại tỉnh Thái Nguyên đang hoàn thiện để ban hành hướng dẫn.

Công trình phân theo nguồn nước

Vùng Tây Nguyên, Đông Nam bộ, ĐB sông CL sử dụng nguồn nước ngầm chiếm tỷ lệ cao. Riêng vùng Tây Nguyên, về mùa khô, mực nước ngầm hạ thấp, không đủ nguồn nước để vận hành, công trình dừng hoạt động

Bảng 3: Công trình phân theo nguồn nước (%)
 
 
Cấp nước quy mô hộ gia đình

56% người dân đang sử dụng công trình cấp nước quy mô hộ gia đình (36,3 triệu người), trong đó chỉ 10% đạt QCVN:02/2009. Nhìn chung đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước nhưng chất lượng nước chưa bảo đảm. Ở nhiều địa phương, người dân chưa tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi, thiết bị, công nghệ cấp nước.

Tỉnh Đắk Lắk, Tây Ninh đã hỗ trợ trực tiếp cho người dân thiết bị lọc nước hộ gia đình.
Đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng cao cần có sự hỗ trợ của nhà nước thông qua thực hiện chính sách hỗ trợ riêng cho cấp nước quy mô hộ gia đình…

Giá nước

Giá nước vùng nông thôn hiện đang giao động từ 500-12.000đ/m3. Trong đó:
MN phía Bắc (500-3.500đ/m3), ĐB. S Hồng (3.000-12.000đ/m3), Bắc Trung Bộ (5.000-8.000đ/m3), Nam Trung bộ (5.500-9.500đ/m3), Tây Nguyên (3.000-5.000đ/m3), Đông Nam bộ (6.000-10.000đ/m3), ĐB. sông CL (4.000-10.000đ/m3).

ĐB. sông Hồng, sông Cửu Long, ven biển miền Trung cơ bản thu đủ tiền nước. MN phía Bắc, Tây Nguyên hầu như không thu được tiền nước. Hầu hết các công trình tự chảy (miền núi) không thu tiền sử dụng nước/trả chi phí rất thấp (2.000-15.000 đ/hộ/tháng).

Chất lượng nước

* Văn bản pháp lý:

- QCVN 01 và 02 theo Thông tư 50/2015/TT-BYT áp dụng đến 30/6/2021.
- Thông tư 41/2018/TT-BYT hợp nhất 02 quy chuẩn, áp dụng cho cả khu vực và nông thôn hiệu lực 30/6/2021.

* Kết quả đánh giá chất lượng nước năm 2017 theo QCVN 01 và 02:
 
 
2. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CNAT NÔNG THÔN (CNATNT)

Tại Quyết định số 1566/QĐ-TTg ngày 9/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình quốc gia bảo đảm cấp nước an toàn giai đoạn 2016-2025, mục tiêu 2025 đã quy định: 50% trạm cấp nước nông thôn lập và thực hiện CNAT.

Cấp Trung ương

- Bộ NN & PTNT đã có văn bản chỉ đạo các tỉnh lập và thực hiện CNATNT gđ 2016-2025.
- Ban hành sổ tay hướng dẫn lập và thực hiện CNATNT và phổ biến cho các tỉnh; tài liệu đào tạo TOT CNATNT.
- Hỗ trợ kỹ thuật và áp dụng thí điểm CNAT cho 8 trạm ĐBSH và hướng dẫn trực tiếp 40 trạm cấp nước ĐBSH lập và thực hiện CNAT.
- Tổ chức hội thảo phổ biến, khóa đào tạo tập huấn về CNATNT.
- Xây dựng đội ngũ giảng viên Trường cao đẳng nghề khu vực Bắc, Trung, Nam về CNATNT và tổ chức đào tạo theo hình thức TOT cho 63 tỉnh về CNATNT.

Địa phương

Hiện nay, có khoảng hơn 300 trạm cấp nước lập và thực hiện KHCNAT: 08 tỉnh ĐBSH, miền Trung (TT Huế, Bình Thuận, Đà Nẵng), ĐBSCL (Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long,  Bến Tre, An Giang, Sóc Trăng).

Khó khăn, thách thức

- Địa phương chưa đầu tư kinh phí cho các trạm thực hiện KHCNAT.
- Chất lượng nước đầu vào không ổn định.
- Một số trạm máy móc cũ nhưng chưa có kinh phí thay thế.
- Đánh giá nội kiểm và sổ ghi chép tại các trạm chưa thực hiện đầy đủ.
- Giá nước không đủ chi phí vận hành.
- Chưa huy động cộng đồng tham gia.
- Nhận thức của người dân chưa cao.

Định hướng

- Thực hiện CNATNT theo lộ trình, ưu tiên công trình cấp nước mới có công suất lớn hơn 500m3/ngày đêm.
- Rà soát, đánh giá chất lượng nước khu vực nông thôn.
- Phổ biến và nhân rộng các mô hình thí điểm CNAT dựa vào nguồn lực hỗ trợ, tự huy động hoặc các đơn vị cấp nước tự hạch toán chi trả.
- Đào tạo, tập huấn cho cán bộ quản lý vận hành.

3. CÁC GiẢI PHÁP HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

- Về văn bản quy phạm pháp luật: Cần ban hành Luật cấp nước; Xây dựng các Nghị định có liên quan
- Nguồn nước: Ưu tiên sử dụng nguồn nước mặt (hồ chứa thủy lợi, sông lớn…) hạn chế nước dưới đât.
- Đầu tư hạ tầng cấp nước, nâng cấp sửa chữa  các công trình xuống cấp (500 tỷ /năm).
- Công tác quản lý vận hành: Ưu tiên công trình cấp nước dự vào cộng đồng (thí điểm ở Thái Nguyên, WB); mô hình ở Tuyên Quang
-  Công tác xã hội hóa: triển khai có hiệu quả công tác xã hội hóa đã được quy định tại Nghị định 57; Ưu tiên hướng nhận bù chéo công trình
- Giá nước: Có lộ trình tính đúng, tính đủ; có sự hỗ trợ chính sách của Nhà nước.
- Ứng phó BĐKH, nước biển dâng, Xâm nhập mặn ĐBSCL.
- Đối với cấp nước hộ gia đình: Nhà nước có chính sách hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo đầu tư công trình cấp nước đảm bảo vệ sinh cũng như an ninh nguồn nước.
- Nâng mức vay ngân hàng chính sách xã hội cho hoạt động cấp nước và vệ sinh.
- Lồng ghép trong chương trình Nông thôn mới.

HOÀNG ANH TUẤN
Tổng Cục Thủy Lợi
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

  •  
Các tin khác

Cứ có một trận mưa lớn hay một đợt triều cường thì câu chuyện bao giờ TP HCM hết ngập lại nóng lên.

Chôn lấp rác thải đô thị chiếm 76% tổng lượng rác thải. Nếu không có giải pháp xử lý, đến năm 2020, nhiều thành phố lớn sẽ không còn đất để chôn lấp. Xử lý vấn đề này như thế nào?

Ngày 9/10, Liên Hiệp các Hôi khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, Hội Cơ học Hà Nội đã phối hợp tổ chức Hội thảo “Giải pháp cấp nước tự chảy cho sông Đáy, sông Nhuệ, hồ Tây và các sông trong nội thành bằng nguồn nước sông Đà từ cống Lương Phú, xã Thuần Mỹ, Ba Vì”.

Đại hội Đại biểu toàn quốc Ủy ban MTTQ Việt Nam vừa diễn ra từ 18-20/9, có rất nhiều ý kiến, kiến nghị được đưa ra trong trong đó nổi bật nên vấn đề về ô nhiễm môi trường của đại biểu Trần Đình Long.